An toàn thực phẩm

Tình hình sản xuất rau hữu cơ tại vùng rau hữu cơ Ba Vì - Hà Nội


Rau, quả là những thực phẩm không thể thiếu trong khẩu phần ăn hàng ngày. Thành phố Hà Nội có tổng diện tích canh tác rau 12.041 ha. Tuy nhiên về rau hữu cơ, thì Ba Vì là một trong số ít nơi có điều kiện thực hiện.

Vùng nông nghiệp hữu cơ (NNHC) Ba Vì bao gồm 5 huyện thuộc ngoại ô thành phố Hà Nội, nơi đã có sẵn khá nhiều các sản phẩm nông nghiệp có thể trở thành sản phẩm thực phẩm hữu cơ mang tính hàng hóa góp phần phục vụ cho thị trường dân cư Hà nội 7 triệu người.Các nhóm sản phẩm nông nghiệp hiện có của vùng có thể được chia làm 2 nhóm:

Một là các sản phẩm hoàn toàn hữu cơ (100% hữu cơ) đó là các loại măng, các cây thảo dược trồng dưới tán rừng, mật ong nuôi tự nhiên, một số các loại rau bản địa như rau gia vị, rau rừng đã được trồng đã được trồng theo phương pháp canh tác hữu cơ như ở trang trại Hoa viên Thạch thất và Trang trại đồng quê Ba vì.

Hai là các sản phẩm có tiềm năng chuyển đổi theo hướng hữu cơ như các loại cây ăn quả bản địa như chuối, mít, quất hồng bì, chè, dứa, một số vùng rau an toàn đã được chứng nhận Vietgap ở huyện Phúc Thọ, bưởi Diễn tại huyện Đan phượng, các loại rau mầu đặc sản (khoai lang tiến vua Đồng thái Ba vì, đậu đỗ Đường lâm). Sản phẩm chăn nuôi chuyển đổi sẽ là một số nông hộ và trang trại tuân thủ nghiêm ngặt quy trình chăn nuôi sạch, an toàn cho các loại con như đà điểu, bò thịt, lợn thịt, gà đồi, cá nước ngọt.

 

Rau hữu cơ ất cần cho cuộc sống

Tuy vừa mới đây Chính phủ đã ban hành nghị định hữu cơ nhưng trong giai đoạn đầu thực hiện vẫn sẽ gặp rất nhiều khó khăn thách thức, đơn cử như chưa có được thị trường tiêu thụ ổn định cho các sản phẩm hữu cơ do đại đa số người tiêu dùng chưa được trang bị kiến thức nên chưa có sự ủng hộ lớn đối với sản phẩm hữu cơ. Quy trình chứng nhận đi kèm với chế tài xử phạt hầu như chưa được thực thi nghiêm túc nên xảy ra tình trạng thật giả lẫn lộn.

Về phía các đơn vị và các nông hộ trực tiếp sản xuất, chưa nhận thức được một cách sâu sắc việc sản xuất sạch trước hết là vì sức khỏe và môi trường sống của cá nhân, gia đình, cộng đồng làng xóm xung quanh mình. Thiếu kiến thức về giống, công nghệ sinh học, công nghệ chế biến, cách tiếp cận thương mại, quy trình quản lý trong nông hộ và trang trại để sản xuất sản phẩm hữu cơ.

Đặc biệt là thiếu trầm trọng và khó tiếp cận về nguồn vốn tín dụng ưu đãi, vấn đề này sẽ ngày càng khó khăn nếu không được Chính phủ chỉ định chính danh tức chỉ để dùng cho sự nghiệp phát triển nền nông nghiệp hữu cơ. Để khắc phục các khó khăn trên nên xây dựng một hệ thống giải pháp đồng bộ như sau:

1) Về mặt chủ trương cần sự đồng thuận và nhất trí của các cấp quản lý Tw và Tp Hà Nội xây dựng vùng thí điểm với các mô hình sản xuất theo chuỗi cho các sản phẩm NNHC.

2) Xây dựng bản quy hoạch vùng nông nghiệp hữu cơ Ba vì mang tính pháp lý để bảo vệ nghiêm ngặt các khu vực có hệ sinh thái tự nhiên quý giá như vườn quốc gia Ba vì, các hồ nước ngọt lớn, môi trường tự nhiên của sông Đà, sông Hồng - nền tảng căn bản nhất để phát triển hệ sinh thái nông nghiệp hữu cơ bền vững của toàn vùng, là nơi lưu giữ các nguồn gen thiên nhiên để phát triển các đặc sản có giá trị kinh tế cao. Xác định tổng diện tích NNHC và có khả năng chuyển đổi hữu cơ, lực lượng lao động tham gia vào sản xuất hữu cơ. Xây dựng các cơ sở chế biến đã có sẵn ngay tại nơi sản xuất cùng với hệ thống chuyên chở, hệ thống phân phối sản phẩm (các cửa hàng, các chợ đầu mối).

3) Xây dựng một chương trình hành động có ban chỉ đạo cho việc thực hiện chủ trương, quy hoạch, xây dựng và thực hiện các dự án NNHC với việc nhấn mạnh tính hiệu quả nhờ việc liên kết chặt chẽ các đơn vị thực hiện trong chuỗi sản phẩm hữu cơ, theo thứ tự ưu tiên về an toàn thực phẩm, nhu cầu tiêu thụ của cộng đồng với sự tham gia, liên kết của năm nhà tiêu dùng, thương mại, sản xuất, khoa học công nghệ, quản lý. Lấy doanh nghiệp là đơn vị chủ chốt chịu trách nhiệm nối kết các khâu liên kết trong chuỗi phát triển sản phẩm.

 4) Xây dựng dự án nghiên cứu triển khaiviệc cấp giấy chứng nhận hữu cơ cho các đơn vị được giao mang tính thực thi cao, với mục đích của việc cấp giấy chứng nhận cho các hộ sản xuất hữu cơ là một quá trình hướng dẫn và theo dõi sát sao, khuyến khích người sản xuất NNHC, bảo vệ duy trì sinh thái thiên nhiên.

5) Cho phép thành lập và vận hành thí điểm quỹ tín dụng vay ưu đãi đặc biệt để có được những chính sách về tín dụng phù hợp. Điều kiện vay nên là tín chấp dựa vào hai tiêu chí đó là: định suất đầu tư trên cơ sở các định mức kỹ thuật và hợp đồng bao tiêu sản phẩm từ các đơn vị thu mua, nên có bảo hiểm cho một số  sản phẩm chăn nuôi và trồng trọt có giá trị kinh tế cao. Thời hạn cho vay ít nhất 5 năm và cần phải thử phản ứng của thị trường tiêu dùng sản phẩm hữu cơ.

6) Đào tạo tập huấn các nông hộ, các chủ trang trại quy trình thực hành canh tác hữu cơ.

7) Mở rộng và thúc đẩy các quan hệ hợp tác quốc tế trong quá trình xây dựng phát triển các mô hình sản xuất NNHC tiên tiến nhằm hình thành một vùng thực hành và tập huấn cho việc ứng dụng và phát triển các kết quả công nghệ từ các nước tiên tiến như Hoa kỳ, Nhật bản, Eu… không những cho Hà nội mà còn cho toàn vùng Bắc bộ.

8) Đầu tư xây dựng dự án truyền thông về các sản phẩm sản xuất tại vùng NNHC Ba vì. Hỗ trợ mặt bằng tại các khu triển lãm nông nghiệp cho các đơn vị sản xuất giới thiệu thường xuyên các sản phẩm của mình nhằm thu hút sự tham gia ngày càng nhiều của các đơn vị thương mại và cộng đồng người tiêu dùng. Phát triển hình thức du lịch nông nghiệp gắn liền với thưởng lãm đặc sản sạch,  hữu cơ cho du khách trong, ngoài nước. Tổ chức các hình thức giáo dục trải nghiệm hiểu biết về nông nghiệp hữu cơ bảo vệ môi trường thiên nhiên tại vùng Ba vì cho các tầng lớp học sinh, sinh viên thành phố Hà nội.

TS Ngô Kiều Oanh

 

 

Bạn đang đọc bài viết "Tình hình sản xuất rau hữu cơ tại vùng rau hữu cơ Ba Vì - Hà Nội" tại chuyên mục Cảnh báo của Khỏe 365. Mọi thông tin chia sẻ, phản hồi xin gửi về hòm thư : khoe365@nguoiduatin.vn. Hotline: 093 4343 637.


BÀI MỚI ĐĂNG

BÀI ĐỌC NHIỀU

Thông tin quảng cáo